Một đơn hàng của xưởng in chạm vào gần như mọi phần việc thuế của doanh nghiệp sản xuất nhỏ: tiền cọc chưa phải lúc lập hoá đơn, thuế đầu vào của giấy mực được khấu trừ nếu đủ điều kiện, tiền trả cho người gia công cá nhân phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, hàng lỗi bị trả lại xử lý bằng hoá đơn điều chỉnh, và lợi nhuận đơn hàng góp vào thuế thu nhập doanh nghiệp cuối năm.
Bài tập đặt người học vào vai kế toán của một xưởng in bao bì là công ty trách nhiệm hữu hạn, khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ. Đơn vị triệu đồng, riêng đơn giá tính bằng đồng. Đọc đề, tự trả lời sáu câu, rồi mới đọc lời giải.
Đề bài: đơn in năm nghìn hộp
- Báo giá, tháng 9/2026: in 5.000 hộp giấy đựng bánh, đơn giá 12.000 đồng/hộp chưa thuế, thuế suất 10%. Khách ký hợp đồng, cọc 30% giá trị hợp đồng gồm thuế.
- Mua vật tư, tháng 9, có hoá đơn, chuyển khoản: giấy 20 + thuế 2; mực 5 + thuế 0,5.
- Thuê ngoài: làm khuôn bế tại một xưởng khác có hoá đơn: 4 + thuế 0,4, chuyển khoản. Thuê một thợ cá nhân (không hợp đồng lao động, không cam kết) dán hộp, trả một lần 3.
- Chi phí nội bộ phân bổ cho đơn hàng: nhân công trực tiếp 6, chi phí sản xuất chung 5.
- Giao hàng, ngày 8/10/2026: giao đủ 5.000 hộp.
- Ngày 15/10: khách trả lại 100 hộp lỗi in; hai bên lập biên bản, xưởng đồng ý giảm tương ứng. Hộp lỗi bị huỷ, có biên bản.
- Ngày 25/10: khách thanh toán phần còn lại.
Câu hỏi: (1) Khi nhận cọc có lập hoá đơn không? Tiền cọc là bao nhiêu? (2) Khoản trả thợ dán hộp xử lý thuế thế nào? (3) Giá thành đơn hàng và giá thành một hộp? (4) Hoá đơn khi giao hàng và khi khách trả lại lập thế nào? (5) Khách còn phải trả bao nhiêu ngày 25/10? (6) Đơn hàng đóng góp bao nhiêu vào thuế giá trị gia tăng phải nộp và lợi nhuận trước thuế?
Lời giải câu 1 và câu 2: tiền cọc và thợ gia công
Câu 1. Giá trị hợp đồng: 5.000 × 12.000 = 60 triệu đồng chưa thuế, thuế 6, gồm thuế 66. Cọc 30%: 66 × 30% = 19,8.
Với bán hàng hoá, thời điểm lập hoá đơn là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng cho người mua, không phụ thuộc đã thu tiền hay chưa (khung lâu nay ở Nghị định 123/2020/NĐ-CP sửa đổi bởi Nghị định 70/2025/NĐ-CP; từ 1/7/2026 đối chiếu Nghị định 254/2026/NĐ-CP). Nhận cọc tháng 9 khi hàng chưa giao thì chưa lập hoá đơn; kế toán ghi nhận là tiền khách trả trước.
Câu 2. Thợ dán hộp là cá nhân không ký hợp đồng lao động, nhận một lần 3, từ 2 triệu đồng trở lên, không có cam kết: xưởng khấu trừ 10% = 0,3, trả thợ 2,7, cấp chứng từ khấu trừ và kê khai vào tờ khai khấu trừ thuế thu nhập cá nhân của kỳ trả. Chi phí gia công vẫn là 3 (thu nhập trước thuế), không phải 2,7. Chứng từ cần có: hợp đồng hoặc biên bản giao việc, biên bản nghiệm thu số hộp đã dán, chứng từ chi tiền.
Lời giải câu 3: giá thành đơn hàng
| Khoản | Số tiền |
|---|---|
| Giấy (chưa thuế) | 20 |
| Mực (chưa thuế) | 5 |
| Khuôn bế thuê ngoài (chưa thuế) | 4 |
| Gia công dán hộp | 3 |
| Nhân công trực tiếp | 6 |
| Chi phí sản xuất chung | 5 |
| Giá thành 5.000 hộp | 43 |
Giá thành một hộp: 43.000.000 ÷ 5.000 = 8.600 đồng.
Thuế giá trị gia tăng đầu vào (2 + 0,5 + 0,4 = 2,9) không nằm trong giá thành, vì được khấu trừ. Khuôn bế nếu dùng được cho nhiều đơn hàng thì có thể phân bổ dần; trong bài giả sử khuôn chỉ dùng cho đơn này.
Lời giải câu 4 và câu 5: hoá đơn và thanh toán
Câu 4. Ngày 8/10 giao đủ hàng: lập hoá đơn 5.000 hộp, giá chưa thuế 60, thuế 6, tổng 66. Hoá đơn ghi nhận khoản cọc đã nhận theo cách phần mềm hoá đơn cho phép, nhưng giá trị hàng vẫn là 60.
Ngày 15/10 khách trả lại 100 hộp lỗi, hai bên đồng ý giảm: xưởng lập hoá đơn điều chỉnh giảm cho hoá đơn ngày 8/10: giảm giá chưa thuế 100 × 12.000 = 1,2, giảm thuế 0,12, tổng giảm 1,32. Kèm biên bản trả hàng ghi số lượng, lý do. Cách xử lý hàng bán bị trả lại ở cả hai bên có bài riêng: hàng bán bị trả lại, xử lý hoá đơn và sổ sách hai bên.
Câu 5. Khách còn phải trả: 66 − 1,32 − 19,8 = 44,88. Khoản này trên 5 triệu đồng; khách nên chuyển khoản để đủ điều kiện khấu trừ thuế đầu vào của họ.
Lời giải câu 6: thuế giá trị gia tăng và lợi nhuận
| Chỉ tiêu | Cách tính | Kết quả |
|---|---|---|
| Thuế đầu ra sau điều chỉnh | 6 − 0,12 | 5,88 |
| Thuế đầu vào được khấu trừ | 2 + 0,5 + 0,4 | 2,9 |
| Đóng góp vào thuế giá trị gia tăng phải nộp | 5,88 − 2,9 | 2,98 |
| Doanh thu thuần | 60 − 1,2 | 58,8 |
| Giá vốn (toàn bộ giá thành, vì 100 hộp lỗi đã huỷ) | 43 | |
| Lợi nhuận trước thuế của đơn | 58,8 − 43 | 15,8 |
Lưu ý kỳ kê khai: thuế đầu vào của vật tư mua tháng 9 thuộc tờ khai chứa tháng 9; thuế đầu ra và phần điều chỉnh giảm thuộc tờ khai chứa tháng 10. Nếu xưởng khai theo quý, cả hai nằm ở hai quý khác nhau (quý 3 và quý 4).
Thuế thu nhập doanh nghiệp không tính theo đơn hàng mà theo năm. Nếu tổng doanh thu năm của xưởng không quá 3 tỷ đồng, thuế suất 15% theo Luật 67/2025/QH15; phần lợi nhuận 15,8 của đơn này, nếu mọi chi phí đều đủ điều kiện được trừ, tương ứng khoảng 2,37 thuế. Chi phí 100 hộp lỗi (100 × 8.600 = 0,86) nằm trong giá vốn; để được trừ khi quyết toán, cần giữ biên bản trả hàng và biên bản huỷ.
Tóm tắt bút toán theo trình tự thời gian
Để thấy toàn bộ đơn hàng trên sổ, đây là các bút toán chính theo thứ tự (tài khoản gọi theo tên cho dễ đọc):
- Nhận cọc tháng 9: Nợ tiền gửi ngân hàng 19,8 / Có phải thu khách hàng (khách trả trước) 19,8.
- Mua giấy, mực: Nợ nguyên vật liệu 25, Nợ thuế giá trị gia tăng được khấu trừ 2,5 / Có tiền gửi ngân hàng 27,5.
- Làm khuôn bế: Nợ chi phí sản xuất 4, Nợ thuế được khấu trừ 0,4 / Có tiền gửi ngân hàng 4,4.
- Trả thợ dán hộp: Nợ chi phí sản xuất 3 / Có tiền 2,7, Có thuế thu nhập cá nhân phải nộp 0,3.
- Xuất vật tư, phân bổ nhân công và chi phí chung, nhập kho thành phẩm: giá thành 43.
- Giao hàng 8/10: Nợ phải thu khách hàng 66 / Có doanh thu 60, Có thuế giá trị gia tăng phải nộp 6; đồng thời Nợ giá vốn 43 / Có thành phẩm 43.
- Hàng trả lại 15/10: Nợ giảm trừ doanh thu 1,2, Nợ thuế giá trị gia tăng phải nộp 0,12 / Có phải thu khách hàng 1,32.
- Thu tiền 25/10: Nợ tiền gửi ngân hàng 44,88 / Có phải thu khách hàng 44,88.
Kiểm tra số dư phải thu của khách sau cùng: −19,8 + 66 − 1,32 − 44,88 = 0. Số dư bằng không nghĩa là đơn hàng đã khép kín về công nợ; nếu còn số lẻ, có bước nào đó ghi lệch.
Sai lầm hay gặp và chỗ tự kiểm tra
- Lập hoá đơn khi nhận cọc rồi lập tiếp hoá đơn đủ khi giao, làm doanh thu bị ghi hai lần phần cọc.
- Ghi chi phí gia công 2,7 (số thực trả) thay vì 3, và quên kê khai 0,3 đã khấu trừ.
- Trừ thẳng 1,32 vào tiền khách trả mà không lập hoá đơn điều chỉnh: doanh thu trên hoá đơn vẫn 60 trong khi tiền thu chỉ ứng với 58,8.
- Để hộp lỗi trong kho không biên bản, cuối năm kiểm kê ra chênh lệch không giải thích được.
Tự kiểm tra ở đâu: hoá đơn bán ra, hoá đơn điều chỉnh và hoá đơn mua vào đối chiếu trên cổng hoá đơn điện tử; tờ khai thuế giá trị gia tăng và tờ khai khấu trừ thuế thu nhập cá nhân nộp, theo dõi trên tài khoản thuế điện tử; mã số thuế của khách và xưởng làm khuôn tra ở trang tra cứu thông tin người nộp thuế.
Câu hỏi thường gặp
Khách huỷ đơn sau khi đã cọc thì tiền cọc xử lý thế nào?
Nếu hợp đồng cho xưởng giữ cọc, khoản đó là khoản thu do bên kia vi phạm hợp đồng, xử lý theo bản chất khoản bồi thường chứ không phải doanh thu bán hàng. Cách kê khai thuế cho khoản này nên đối chiếu quy định hiện hành hoặc hỏi cơ quan thuế.
Giao hàng làm hai đợt thì lập mấy hoá đơn?
Mỗi lần giao hàng và chuyển quyền sở hữu thường lập hoá đơn cho số lượng đã giao. Hai đợt thì hai hoá đơn, mỗi hoá đơn đúng số hộp của đợt đó.
Thợ dán hộp làm nhiều lần mỗi lần dưới 2 triệu đồng thì có khấu trừ không?
Mỗi lần trả dưới 2 triệu đồng thì chưa thuộc diện khấu trừ 10%. Nhưng nếu thực chất là một khoản công cho cả đơn mà chia nhỏ để tránh khấu trừ, đó là cách làm sai.
Giá thành có tính cả khấu hao máy in không?
Có, khấu hao máy móc dùng cho sản xuất nằm trong chi phí sản xuất chung và được phân bổ cho các đơn hàng. Trong bài, khoản 5 chi phí sản xuất chung đã gồm phần khấu hao phân bổ.
Khách không đồng ý giảm giá mà đòi in bù 100 hộp thì sao?
In bù thay hàng lỗi là đổi hàng: xưởng xuất 100 hộp mới thay 100 hộp lỗi, không làm thay đổi doanh thu. Cần biên bản đổi hàng; chi phí in bù làm tăng giá thành đơn hàng.
Đơn hàng lãi 15,8 thì có phải tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ngay không?
Thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý trên lợi nhuận của cả doanh nghiệp, không theo từng đơn. Lợi nhuận đơn hàng chỉ là một phần cộng vào kết quả quý và năm.